HOTLINE: 0975 72 76 15

Băng vết thương hở – Những lựa chọn

Chọn băng vết thương sao cho phù hợp với giai đoạn của vết thương, bài viết dưới đây sẽ giúp bạn chọn lựa băng vết thương sao cho phù hợp.

Việc lựa chọn loại băng nào để băng vết thương là một quyết định chính trong điều trị tại chỗ vết thương. Các loại băng khác nhau có các đặc tính tác dụng lên quá trình tạo mô hạt và quá trình biểu mô hóa khác nhau. Khi chọn băng đúng thì phải tính đến các tác dụng “âm tính” của nó như sự phát triển của vi khuẩn sau khi sử dụng băng. Ưu điểm lớn của các loại băng vết thương hiện tại là duy trì được môi trường ẩm của vết thương, trái ngược với kỹ thuật dùng gạc “kinh điển”. Dùng gạc có thể tạo ra một lớp dính chắc và khô, chống lại “môi trường ẩm cần thiết cho vết thương”, hạn chế ngay cả các enzym có tác dụng dọn sạch hoại tử cần thiết cho quá trình lành vết thương. Hơn nữa có một lượng nước lớn bị mất đi cùng với nhiệt độ giảm làm chậm lại các quá trình chuyển hóa xảy ra trong vết thương cần thiết cho quá trình lành vết thương.

Băng vết thương hở

Mục đích của giữ ẩm vết thương

Môi trường ẩm có tác dụng kích thích quá trình lành vết thương. Ngoài ra còn có mục đích là dự phòng từ trước để vết thương khỏi bị nhiễm khuẩn thứ phát bằng việc tạo ra một hàng rào chống lại các vi khuẩn và tiêu dịch của vết thương và tạo ra môi trường ẩm cho vết thương.

Điều trị băng hấp thu các chất của vết thương.

Trên thị trường có 3 loại băng để hấp thụ dịch tiết của vết thương: màng bán thấm, hydrogel hấp thu, và bán hấp thu

Các loại băng bán thấm

Định nghĩa băng bán thấm là băng có khả năng cho hơi nước, oxy và các loại khí khác thấm qua còn nước và các vi khuẩn thì không thấm qua được. Khả năng thấm của hơi nước là 2.500 g/m2/24h. Các vết thương đang tạo mô hạt mà không được che đậy thì lượng nước mất qua nó là 7.000 g/m2/24h. Bằng cách ấy các loại băng bám thấn chống lại sự mất nước cho vết thương. Các chất khí khuyếch tán qua màng bán thấm dưới dạng phân tử và hòa tan vào dịch vết thương. Khả năng thấm oxy của các loại băng dao động từ 4.000 tới 10.000 cm3/m2/24h. Các loại băng bán thấm thường được làm từ polyurethane, một mặt được phủ bằng các chất keo dính.

Thành phần của băng bán thấm:

Tấm mỏng polyurethane trong suốt, màng hấp thu làm từ polyurethane.

Lớp xốp dính là chất dính acryl đã mất trương lực.

Chỉ định: Vết loét, loét do nằm lâu, bỏng độ I và II, các vết thương bị rách và sượt da, ghép da.

Chống chỉ định: Các vết thương sâu tới cơ, lộ gân hoặc xương, viêm mạch, nhiễm khuẩn toàn thân, thiếu máu cục bộ.

Băng hydrogel

Nhược điểm chính của băng bán thấm là tập trung lượng lớn dịch vết thương mà không hấp thu đi. Ngược lại, băng hydrogel do cấu trúc của chúng nên có khả năng hấp thu rất lớn: mạng lưới không gian ba chiều của các polymer ưa nước làm từ gelatin, polysaccharide, các phức hợp đa điện tử, và các polymer methracyl ester. Chúng trương lên do giữ nước cho đến khi cân bằng được thiết lập, vì thế thu được một lượng lớn dịch từ vết thương.

Băng hydrocolloid.

Kết hợp các hydrogen polymer với các thành phần dính và đàn hồi ta được băng hydrocolloid. Tính đàn hồi cũng như tính dính của nó có được từ các chất liệu tổng hợp ít gây dị ứng. Các lớp kỵ nước chứa các phân tử ưa nước. Chất gel thường dùng nhất trong băng hydrocolloid là carboxymethycollulose, chất này dính chặt vào mép vết thương sau khi tiếp xúc với nước qua biểu bì. Phần hydrocolloid nằm trên vết thương sau khi hút dịch có thể trương lên gấp 12 lần trọng lượng ban đầu của nó.

Các đảo gel nhỏ riêng rẽ sẽ hợp lại với nhau. Quá trình này được gọi là giai đoạn hồi biến: do giữ dịch, thành phần lúc trước kỵ nước đã trở nên ưa nước. Giai đoạn hồi biến có biểu hiện lâm sàng là tạo thành gờ, điều này làm giảm đáng kể tính dính của băng và lúc này băng có thể được bỏ đi mà không gây chấn thương.

Băng Alginate

Các alginate được làm từ acid alginic một chất được tách chiết từ tảo nâu (Laminaria spp) và được chế thành alginate can xi. Khi tiếp xúc với các chất thải của vết thương alginate can xi không hòa toàn biến thành alginate natri hòa tan thông qua trao đổi ion. Chất này bắt đầu trương lên đồng thời có khả năng hấp thu một lượng dịch lớn. Các sợi gel đơn lẻ có thể còn lại ở vết thương trong suốt những lần thay băng và bị các chất tiết của vết thương hòa tan. Không cần thiết phải dùng các biện pháp cơ học để loại bỏ các phần tử này vì chúng sẽ bị rửa sạch dần theo thời gian.

Các loại băng hấp thu mùi

Nên nhớ rằng mùi hôi thối của vết thương mạn tính có thể làm giảm đáng kể các tiếp xúc xã hội của bệnh nhân, làm cho bệnh nhân bị cô lập vì thế làm cho vết thương chậm lành. Vì thế nên điều trị cho bệnh nhân các loại băng có khả năng hấp thu mùi.

Khả năng trương

Hydrogen và băng hydrocolloid trương lên khi có dịch. Khả năng giữ nước của chúng có hạn vì hydrogen đã chứa tới 95% là nước rồi. Thương số giữa thể tích ban đầu và thể tích sau 24 giờ tiếp xúc với dịch vết thương được gọi là chỉ số trương. Băng hydrocolloid trương lên theo chiều thì càng nhiều gel dài vào vết thương. Điều này có một tác dụng phụ rất tốt đó là tạo được sức ép lên bề mặt  vết thương làm cho tăng tạo mô hạt. Hơn thế nữa gel colloid có gradient hấp thu với các cơ chất hòa tan trong dịch rỉ vết thương vì thế loại ra được các thành phần độc của vi khuẩn và các mảnh vụn tế bào. Các gel hydrocolloid ấy chứa protein và các polysaccharide có thể tương tác với tế bào, có tác dụng lên quá trình liền vết thương bằng việc giải phóng các đơn phân tử. Đây có thể là bước thứ nhất từ quá trình điều trị vết thương phản ứng sang vết thương tương tác.

Hiệu quả của điều trị vết thương bằng băng hấp thu

– Làm tăng quá trình biểu mô hóa (thí dụ như vết thương vừa được cắt lọc: khoảng 40%).

– Kích thích tạo mô hạt và che đậy lại các vết thương mạn tính (thúc đẩy di tản nguyên bào sợi và tổng hợp collagen).

Nhược điểm của điều trị bằng băng hấp thu là dễ nhiễm khuẩn vết thương.

Nên chọn băng theo từng giai đoạn của vết thương. Nếu vết thương tiết dịch mạnh thì nên tránh dùng băng hấp thu vì tích tụ rất dễ làm cho vết thương nhiễm khuẩn và hậu quả có thể gây châm liền vết thương. Ở những vết thương này thì phải dùng các loại băng hút không hấp thu.

Việc dùng gạc vô trùng không có tác dụng dự phòng tốt lắm vì nó nhanh chóng hút dịch và máu trở nên không vô khuẩn. Thứ hai là khi băng khô nó sẽ trở nên cứng, không mềm mại và dính vào vết thương, điều này làm cho bệnh nhân đau kinh khủng mỗi khi thay băng. Khi việc dẫn lưu vết thương đã được đảm bảo thì có thể đặt các tấm không dính lên vết thương.

Màng mỏng polyurethan nên dùng trong những trường hợp vết thương đang tạo mô hạt – đặc biệt là trước khi ghép da – thì tốt hơn là dùng cho các vết thương đang biểu mô hóa. Trong một vài trường hợp thì biện pháp này lại là không tốt vì các mầm mới được hình thành có thể bị xé rách trong khi thay băng.

Để giúp bạn điều trị các vết thương hở đúng cách, không để lại sẹo, hãy dự phòng trong tủ thuốc gia đình bạn với Thuốc mỡ sinh cơ Ông Thoàn Bỏng – Chuyên đặc trị các vết thương bỏng, vết loét lâu liền, vết thương ngoài da. 

Thuốc mỡ sinh cơ  chữa bỏng Ông Thoàn Bỏng được bào chế từ các cây thuốc nam như nghệ, nhựa đu đủ, cây chìa vôi, cây lạc tiên… khi thay băng, tháo băng không gây đau đớn, giúp vết thương nhanh liền, hạn chế để lại sẹo. Thuốc đã được kiểm chứng lâm sàng qua việc chữa khỏi cho hàng vạn bệnh nhân bỏng từ cấp độ 1 cho tới cấp độ 5, 6 tại cơ sở chữa bỏng của Lương Y Đào Viết Thoàn.

Sản phẩm đạt Giải thưởng sáng tạo Kỹ Thuật Việt Nam – Giải thưởng Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác.

DSC_1125

Các bước điều trị như sau:

– Bước 1: Đánh giá chính xác tình trạng vết thương về vị trí, giai đoạn, kích thước, đau và tình trạng vùng da xung quanh vết thương. Phải đánh giá lại vết thương thường xuyên, hàng ngày.

– Bước 2: Rửa vết thương với nước đun sôi để nguôi hay với nước muối sinh lý. Sử dụng lực tác động tối thiểu khi rửa hay làm sạch vết thương.

– Bước 3: Cán đều thuốc lên gạc vô trùng, sau đó đắp gạc đã cán thuốc vào vết thương. Sử dụng băng cuộn hoặc 1 lớp gạc sạch khác bên ngoài và dán băng dính để cố định vết thương.

– Ngày thay băng hai lần. Cần quan sát và đánh giá thường xuyên vết thương sẽ kiểm soát được quá trình tiến triển trong điều trị và thay đổi mục đích điều trị khi cần thiết.

– Làm sạch vết thương để tránh nhiễm khuẩn là rất quan trọng.

– Xung quanh vết thương cần phải giữ sạch. Nếu vết bỏng bị nhiễm khuẩn, thì nên sử dụng loại kháng sinh thích hợp.

 

Tags: ,
CÁC LOẠI TIN KHÁC:
Chăm sóc và điều trị vết thương
Hỗ trợ tư vấn
0975.727.615