HOTLINE: 0975 72 76 15

Các yếu tố gây loét tỳ đè

Cơ chế chủ yếu của loét tỳ đè là do sự đè ép liên tục lên những vùng nhất định của cơ thể. Hiểu được các yếu tố thuận lợi gây ra loét tỳ đè để góp phần dự phòng loét tỳ đè một cách hiệu quả.

2

Cơ chế chủ yếu của loét tỳ đè là do sự đè ép liên tục lên những vùng nhất định của cơ thể. Tuy nhiên còn một số nguyên nhân khác đó là những yếu tố mà sự có mặt của chúng làm cho loét tỳ đè phát triển sớm, kéo dài gồm ba phần:

Lực trượt: Là lực tác dụng lên da khi bệnh nhân thay đổi vị trí cơ thể như: thay đổi tư thế nằm sang ngồi trong thời gian dài. Lực trượt làm cho tổ chức dưới da bị di chuyển các tổ chức của mô bị đè ép và đứt gãy do áp lực kéo dài sẽ dẫn đến thiếu máu nuôi dưỡng và dẫn đến hoại tử mô. Kết quả sẽ dẫn đến một vùng da bị rách.

Cọ xát: Là sự tác động trượt cọ xát lên nhau giữa hai bề mặt, một là da và một là bề mặt cứng bên ngoài làm da bị bào mòn gây ra những vết thương nông trên bề mặt da.

Sự ẩm ướt của da: Sự ẩm ướt của da làm tăng lực trượt tạo điều kiện thuận lợi cho loét phát triển. Sự ẩm ướt này là do mồ hôi ra nhiều, đại tiểu tiện không tự chủ, vết thương chảy nước…. vì vậy giữ cho da bệnh nhân sạch, khô ráo là điều hết sức cần thiết trong việc phòng chống loét.

Thiểu dưỡng: Là tình trạng làm cho cơ thể gầy mòn suy kiệt, dẫn đến các mô bị suy yếu. Các mô đóng vai trò là lớp đệm giữa da và xương để bảo vệ cơ thể vì vậy nguy cơ loét sẽ tăng cao. Việc cung cấp đầy đủ dinh dưỡng đặc biệt là prôtêin, vitamin… góp phần hạn chế quá trình hình thành loét.

Nhiễm trùng: Là sự sâm nhập của vi khuẩn bên ngoài vào cơ thể gây sốt cao. Sốt làm tăng quá trình trao đổi chất và sử dụng năng lượng của cơ thể, làm mô tăng tính nhậy cảm với một số chất hóa học của vết thương. Ngoài ra sốt còn làm tăng sự bài tiết mồ hôi làm tăng sự ẩm ướt của da.

Sự hư hại của hệ thống tuần hoàn ngoại vi: Như chúng ta đã biết khi hệ thống tuần hoàn ngoại vi bị hư hại sự cung cấp dung dịch cho tổ chức mô sẽ giảm khi đó mô sẽ giảm, hoạt động và tăng tính nhậy cảm hơn đối với các chất hóa học có hại cũng là yếu tố thuận lợi gây nên tình trạng loét da.

Béo phì: Ở người béo phì mô mỡ nhiều và dày hơn. Các mô mỡ có thể bảo vệ da bằng cách đóng vai trò như một lớp đệm chống lại áp lực nhô lên của xương. Các mô này lại nghèo nàn mạch máu làm cho mô và tổ chức dưới mô bị thiếu dinh dưỡng, do vậy bệnh nhân quá nhiều mỡ sẽ tăng tính nhậy cảm đối với loét tỳ đè.

Giảm vận động: Những bệnh nhân có khả năng thay đổi tư thế thường xuyên ít có nguy cơ loét. Ngược lại các bệnh nhân hôn mê, bệnh nhân liệt nửa người… thường không thể vận động được thì nguy cơ loét rất cao.

Tuổi tác: Theo nghiên cứu của Stottes (1988) loét tỳ có nguy cơ xảy ra nhiều hơn ở những người trên 65 tuổi. Do ở người lớn tuổi da thường mỏng và yếu dần cùng với sự tăng lên của tuổi tác, đồng thời lớp mô dưới da cũng ngày càng mỏng và có xu hướng mất đi, dẫn đến chức năng bảo vệ da của cơ thể bị suy giảm.

Điều trị Vết loét da  với Thuốc mỡ sinh cơ Ông Thoàn Bỏng.

Thuốc mỡ sinh cơ  Ông Thoàn Bỏng  được bào chếtừ các cây thuốc nam như nghệ, nhựa đu đủ, cây chìa vôi, cây lạc tiên… khi thay băng, tháo băng không gây đau đớn, giúp vết thương nhanh liền, hạn chế để lại sẹo. Thuốc đã được kiểm chứng lâm sàng qua việc chữa khỏi cho hàng vạn bệnh nhân bỏng từ cấp độ 1 cho tới cấp độ 5, 6 tại cơ sở chữa bỏng của Lương Y Đào Viết Thoàn.

Sản phẩm đạt Giải thưởng sáng tạo kỹ thuật Việt Nam – Giải thưởng Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác

DSC_1125

Hướng dẫn Điều trị vết loét da với Thuốc mỡ sinh cơ Ông Thoàn Bỏng

– Bước 1: Đánh giá chính xác tình trạng loét về vị trí, giai đoạn, kích thước, đau và tình trạng vùng da xung quanh vết loét. Phải đánh giá lại vết loét thường xuyên, hàng ngày.

– Bước 2: Rửa vết loét với nước đun sôi để nguôi hay với nước muối sinh lý. Sử dụng lực tác động tối thiểu khi rửa hay làm sạch vết loét.

– Bước 3: Cán đều thuốc lên gạc vô trùng, sau đó đắp gạc đã cán thuốc vào vết thương. Sử dụng băng cuộn hoặc 1 lớp gạc sạch khác bên ngoài và dán băng dính để cố định vết thương.

– Ngày thay băng hai lần. Cần quan sát và đánh giá thường xuyên vết thương sẽ kiểm soát được quá trình tiến triển trong điều trị và thay đổi mục đích điều trị khi cần thiết.

– Làm sạch vết thương để tránh nhiễm khuẩn là rất quan trọng.

– Xung quanh vết loét cần phải giữ sạch. Nếu vết loét bị nhiễm khuẩn, thì nên sử dụng loại kháng sinh thích hợp.

 

 

 

 

 

 

Tags: ,
CÁC LOẠI TIN KHÁC:
Chăm sóc và điều trị vết thương
Hỗ trợ tư vấn
0975.727.615