HOTLINE: 0975 72 76 15

Loét sau xạ trị

Xạ trị là phương pháp điều trị ung thư bằng cách dùng các chất phóng xạ tác động vào khu vực có tế bào K (tế bào ung thư). Một trong những tác dụng phụ của xạ trị đó là gây ra tác dụng ở ngoài da, trong đó có loét sau xạ trị.

Loét sau xạ trị

Biến chứng tại chỗ của xạ trị

Da là bộ phận ảnh hưởng đầu tiên và nhiều nhất ở vùng chiếu xạ. Các biểu hiện cấp tính ở da xảy ra ở hầu hết các bệnh nhân xạ trị, có thể thoáng qua hoặc tiến triển phức tạp hơn như biểu hiện: tình trạng xơ cứng, teo lép hoặc hoại tử vùng da xạ trị. Đây cũng là dấu hiệu cảnh báo cần phải dừng hoặc có kế hoạch điều chỉnh liều xạ trị phù hợp. Có nhiều quan điểm phân chia giai đoạn tổn thương tại chỗ của xạ trị khác nhau:

Heather Cicero & CS (2005) đã chia sự tiến triển tổn thương da do tia xạ thành 4 giai đoạn theo thời gian:

  • Giai đoạn cấp tính (6 tháng đầu)
  • Giai đoạn bán cấp tính (6 tháng tiếp theo)
  • Giai đoạn mạn tính (từ năm thứ 2 đến năm thứ 5)
  • Giai đoạn muộn (trên 5 năm).

Bahar Dasgeb & CS (2008) trong nghiên cứu các tổn thương do tia xạ, chia tổn thương da thành 3 giai đoạn:

  • Giai đoạn 1 (giai đoạn viêm da cấp tính): Các tổn thương này thường diễn ra trong 1 tháng đầu tiên với các biểu hiện phù nề, đỏ da, đau, ngứa, rối loạn sắc tố. Các phản ứng có thể nặng lên bởi điều trị phối hợp với hóa chất.
  • Giai đoạn 2 (giai đoạn viêm da mạn tính): Xuất hiện khi tiếp xúc với bức xạ quá liều, kết quả là sự teo da. Nó có thể xuất hiện ở những trường hợp tiếp xúc lặp đi lặp lại một liều nhỏ. Thường bắt đầu từ vài tháng sau khi chiếu xạ đến nhiều năm sau. Đặc trưng của giai đoạn này là thiếu máu cục bộ, là bệnh sinh cơ bản của viêm da mạn tính do tia xạ. Da mỏng, teo, khô, mất hoặc tăng sắc tố, các phần phụ của da giảm hoặc mất hoàn toàn. Trong giai đoạn này loét có thể tự xuất hiện hoặc sau chấn thương.
  • Giai đoạn 3 (giai đoạn hoại tử và xơ hóa): da là một cơ quan có khả năng tăng sinh tế bào cao do vậy khả năng chịu đựng với tia xạ rất kém. Loét da xuất hiện sớm hơn và các tổn thương sâu hơn xuất hiện ở nhiều năm sau đó. Các yếu tố thuận lợi để loét xuất hiện: chấn thương, ma sát mạn tính, tỳ đè, nhiễm trùng da hoặc tiếp xúc với ánh nắng mặt trời.

Martha Matthews & CS (2009) cũng chia tổn thương thành 3 giai đoạn: giai đoạn cấp, giai đoạn bán cấp và giai đoạn mạn tính.

  • Giai đoạn cấp tính (6 tháng đầu): Tổn thương cấp tính thường xảy ra khi cơ thể tiếp xúc đột ngột với một lượng bức xạ lớn từ 50 – 100 Gy trong một thời gian ngắn. Các phản ứng ở da và phần mềm biểu hiện như ở bỏng nhiệt nhưng tiến triển chậm hơn với sự biến đổi và phá hủy tế bào đáy của biểu bì. Biểu hiện lâm sàng: đau, ban đỏ, phù nề, ngứa và cuối cùng dẫn đến bong tróc biểu bì. Bong biểu bì dẫn đến hoại tử ướt, cộng thêm nhiễm khuẩn sẽ làm vết thương trở nên phức tạp. Các mô phía dưới có thể bị hoại tử, thiếu máu cục bộ do tình trạng viêm tắc lòng mạch kích thước vừa và nhỏ. Nhiễm khuẩn thứ phát có thể xảy ra gây nguy cơ hoại tử và thường gây đau nhức không đỡ.
  • Giai đoạn bán cấp (6 tháng tiếp theo): Các tổn thương xạ trị do sự tiếp xúc lặp đi lặp lại với những liều tia xạ mức độ thấp trong một thời gian ngắn dẫn đến làm dày và xơ cứng tổ chức ở vùng chiếu xạ. Da trở nên mỏng hơn do sự mất và teo mạng lưới ở phía dưới. Khám lâm sàng có thể thấy khả năng chun dãn của da bị phá vỡ và thành mạch dày hơn do sự lắng đọng collagen. Da cũng trở nên sẫm do sự tập trung của các mảng sắc tố và biểu hiện xơ hóa của da và tổ chức dưới da. Guelinckx và cộng sự bằng việc sử dụng kính hiển vi điện tử đã chứng minh có sự tổn thương, tăng khoảng cách giữa các tế bào nội mô thành mạch, tăng lắng đọng fibrin và hình thành các cục máu đông nhỏ trong làng mạch. Ở những vùng chiếu xạ có sự tăng sinh số lượng mạch máu nhưng thành mạch xơ cứng mất khả năng tự do thắt cầm máu nên ở vùng này khi cắt vào gây chảy máu nhiều và khó cầm. Những vết thương xạ trị khó liền và dễ nhiễm trùng cũng một phần do các chất dinh dưỡng và thuốc kháng sinh được vận chuyển khó khăn tới các vùng này.
  • Giai đoạn mạn tính (sau 1 năm): Tổn thương xảy ra do phản ứng của cơ thể lặp đi lặp lại trong một thời gian dài với tia xạ liều thấp. Sự biến đổi trong mô hệnh học của các tổn thương xạ trị mạn tính có tính chấp giống các tổn thương cấp và bán cấp, nhưng khác ở mức độ và thời gian của sự tiến triển bệnh. Sự giảm lượng máu đến do sự thoái hóa của các mạch máu nhỏ, xơ hóa tổ chức dễ dẫn đến loét tiến triển và nhiễm khuẩn bội nhiễm ở các tổn thương mạn tính do xạ trị.

Điều trị Vết loét da  với Thuốc mỡ sinh cơ Ông Thoàn Bỏng.

Thuốc mỡ sinh cơ  Ông Thoàn Bỏng  được bào chếtừ các cây thuốc nam như nghệ, nhựa đu đủ, cây chìa vôi, cây lạc tiên… khi thay băng, tháo băng không gây đau đớn, giúp vết thương nhanh liền, hạn chế để lại sẹo. Thuốc đã được kiểm chứng lâm sàng qua việc chữa khỏi cho hàng vạn bệnh nhân bỏng từ cấp độ 1 cho tới cấp độ 5, 6 tại cơ sở chữa bỏng của Lương Y Đào Viết Thoàn.

Sản phẩm đạt Giải thưởng sáng tạo kỹ thuật Việt Nam – Giải thưởng Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác

DSC_1125

Hướng dẫn Điều trị vết loét da với Thuốc mỡ sinh cơ Ông Thoàn Bỏng

– Bước 1: Đánh giá chính xác tình trạng loét về vị trí, giai đoạn, kích thước, đau và tình trạng vùng da xung quanh vết loét. Phải đánh giá lại vết loét thường xuyên, hàng ngày.

– Bước 2: Rửa vết loét với nước đun sôi để nguôi hay với nước muối sinh lý. Sử dụng lực tác động tối thiểu khi rửa hay làm sạch vết loét.

– Bước 3: Cán đều thuốc lên gạc vô trùng, sau đó đắp gạc đã cán thuốc vào vết thương. Sử dụng băng cuộn hoặc 1 lớp gạc sạch khác bên ngoài và dán băng dính để cố định vết thương.

– Ngày thay băng hai lần. Cần quan sát và đánh giá thường xuyên vết thương sẽ kiểm soát được quá trình tiến triển trong điều trị và thay đổi mục đích điều trị khi cần thiết.

– Làm sạch vết thương để tránh nhiễm khuẩn là rất quan trọng.

– Xung quanh vết loét cần phải giữ sạch. Nếu vết loét bị nhiễm khuẩn, thì nên sử dụng loại kháng sinh thích hợp.

 

 

Tags: ,
CÁC LOẠI TIN KHÁC:
Chăm sóc và điều trị vết thương
Hỗ trợ tư vấn
0975.727.615